🐯 Kiện Đòi Tài Sản
Quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm không áp dụng đối với tài sản sau đây: a) Tài sản bảo đảm đã được bán, được chuyển nhượng hoặc đã được chuyển giao khác về quyền sở hữu do có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm và không
1. Các khoản phải thu là gì? Các khoản phải thu là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tất cả các khoản nợ cần thu hồi, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các bên nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty. Các khoản phải thu trong
Cụ thể: "Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do "thời hiệu khởi kiện đã hết" nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d
Hiện các bên đã khởi kiện, đưa sự việc ra toà. Công ty ĐHC mua tài sản phát mãi từ ngân hàng đã sở hữu hợp pháp nhưng gian nan đi đòi suốt 1 năm nay. Nguồn gốc 2 thửa đất thuộc sở hữu hợp pháp của công ty TNHH SX-TM-DV Thành Nghĩa (trụ sở đường Phan Anh, Q.Bình Tân).
Kiện đòi tài sản đối với hợp đồng vay bằng miệng. Về nguyên tắc hợp đồng vay tiền không lập văn bản, chỉ thỏa thuận miệng cũng được coi là hợp đồng và có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với hai bên. Do vậy, bên vay và bên cho vay cũng có các quyền và nghĩa
Hồ sơ khởi kiện đòi nợ bao gồm: Đơn khởi kiện đòi nợ theo mẫu. Giấy tờ vay nợ và các tài liệu khác. Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có). 2. Thủ tục khởi kiện đòi nợ tiền cá nhân
Khởi kiện; Sơ thẩm; Phúc thẩm; Giám đốc thẩm; Doanh nghiệp. Thành lập doanh nghiệp; Chứng chỉ hành nghề; Giấy phép kinh doanh; Mua bán doanh nghiệp; Chia tách doanh nghiệp; Phá sản doanh nghiệp; Thuế doanh nghiệp; Tranh chấp hợp đồng; Tư vấn đầu tư. Giấy phép đầu tư; Giấy
Mẫu Đơn khiếu nại đủ điều kiện thụ lý gửi tòa án. thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp
Luật sư hướng dẫn khởi kiện đòi tài sản nhanh chóng Thủ tục khởi kiện đòi nợ là sự quan tâm của nhiều người hiện nay khi càng có nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay tài sản. Vay tiền có giấy tờ hoặc không cũng ảnh hưởng nhiều đến quá trình đòi nợ. Hay bên cạnh đó, cũng có nhiều câu hỏi về việc có nên nhờ công an giải quyết.
3oBj. Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp trả lại tài sản cho mình. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu này được quy định cụ thể tại Điều 164 Bộ luật dân sự 2015 “Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản 1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật. 2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Trong đó Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền “yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản”. Do đó, Kiện đòi lại tài sản là một phương thức được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vậy để khởi kiện kiện đòi lại tài sản cần đáp ứng những điều kiện nào? Điều kiện, trình tự thủ tục, hồ sơ, các giấy tờ pháp lý cần thiết để kiện đòi lại tài sản. i. điều kiện khởi kiện 1. Người khởi kiện nguyên đơn phải chứng minh quyền kiện đòi tài sản Để chứng minh quyền kiện đòi tài sản, trước hết, người khởi kiện phải chứng minh mình là chủ thể có quyền kiện đòi lại tài sản. Theo điều Điều 166 Bộ luật dân sự 2015, chủ thể có quyền kiện đòi ở đây bao gồm Chủ sở hữu và Chủ thể có quyền khác đối với tài sản. a Định nghĩa – Chủ sở hữu là những chủ thể có đầy đủ ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự 2015. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Chủ sở hữu là người có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình. – Chủ thể có quyền khác đối với tài sản là chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác. Quyền khác đối với tài sản bao gồm a Quyền đối với bất động sản liền kề; b Quyền hưởng dụng; c Quyền bề mặt. b Chứng minh Trên thực tế, việc chứng minh quyền sở hữu là rất khó khăn nhất là đối với trường hợp tài sản là động sản không đăng ký quyền sở hữu laptop, điện thoại di động… khi mà tài sản không chỉ chuyển đổi người chiếm giữ một, hai lần mà qua rất nhiều giao dịch dân sự khác nhau. Do đó, nguyên đơn thường phải đưa ra được đặc điểm riêng, đặc trưng để nhận biết tài sản đó. Đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản thường dễ dàng hơn bởi trong trường hợp này có giấy tờ chứng minh. Mặt khác, trong một số trường hợp chủ sở hữu phải chứng minh được tài sản đang đòi đã bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp…. Trong trường hợp người chiếm hữu tài sản nhận được tài sản thông qua giao dịch không đền bù thì không phải chứng mình điều kiện này. c Bồi thường Sau khi chứng minh được quyền kiện đòi, về nguyên tắc, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật bị đơn phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền khác đối với tài sản nguyên đơn theo khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự 2015. Khi lấy lại tài sản, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ trường hợp bồi thường cho người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình phải bỏ ra chi phí hợp lí để sửa chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản. Như vậy, trường hợp bồi thường chỉ đặt ra đối với người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình Điều 583 Bộ luật dân sự 2015. 2. Người bị kiện bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Người bị kiện bị đơn là người chiếm hữu tài sản của người khởi kiện không có căn cứ pháp luật và là người đang trực tiếp nắm giữ tài sản đó Người bị kiện có thể là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình hoặc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình được xác định cụ thể tại Điều 180 và Điều 181 Bộ luật dân sự 2015. Việc xác định tính chất chiếm hữu tài sản của người bị kiện là ngay tình hay không ngay tình có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án bởi điều này không chỉ làm cơ sở để đáp ứng hay không yêu cầu lấy lại tài sản của nguyên đơn mà còn để giải quyết các hệ quả liên quan như yêu cầu người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình phải thanh toán chi phí Điều 583 Bộ luật dân sự 2015 cũng như nghĩa vụ của người chiếm hữu trong việc hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời gian chiếm hữu tài sản Điều 581 Bộ luật dân sự 2015 3. Điều kiện đối với đối tượng kiện đòi Tài sản còn Đối tượng kiện đòi được xác định rất rõ ràng đó là tài sản. Để có thể lựa chọn phương thức kiện đòi tài sản, ngoài hai yêu cầu về mặt chủ thể tham gia nêu trên còn phải đáp ứng điều kiện đó là tài sản còn tồn tại và đang nằm trong sự chiếm giữ của bị đơn. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Tuy nhiên do đặc thù của phương thức kiện đòi lại tài sản cho nên không phải tất cả những tài sản được liệt kê tại Điều 105 đều là đối tượng của kiện đòi lại tài sản . VẬT Để áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản thì tài sản phải là vật có thực và tồn tại trên thực tế với 2 trường hợp còn nguyên ở trạng thái ban đầu hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng bị giảm sút giá trị hoặc đã được làm tăng giá trị. Nếu vật hiện không còn tồn tại do đã bị mất mà không xác định được ai là người đang thực tế chiếm hữu hoặc bị tiêu hủy thì cũng không thể áp dụng biện pháp kiện đòi lại tài sản được mà chỉ có thể áp dụng biện pháp kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. TIỀN Tiền được coi là một loại tài sản riêng biệt. Chủ sở hữu có thể kiện đòi lại tiền trong trường hợp biết rõ số seri của những tờ tiền đó mà hiện đang bị người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Trường hợp tiền đã được bao gói niêm phong mà bị người khác chiếm hữu trái pháp luật và hiện số tiền đó vẫn còn nguyên bao thì bản chất kiện đòi lại tài sản trong trường hợp này là kiện đòi lại tài sản là vật một gói tiền chứ không phải là kiện đòi lại tiền. Do vậy, tùy từng trường hợp mà tiền có thể là đối tượng hoặc không phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản. GIẤY TỜ CÓ GIÁ Giấy tờ có giá với tư cách là giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản, giá trị của giấy tờ có giá chính là giá trị của quyền tài sản mà nó minh chứng. Giấy tờ có giá là loại tài sản hữu hình, được xếp vào loại tài sản là động sản. Giấy tờ có giá có thể là đối tượng của quyền đòi lại tài sản. QUYỀN TÀI SẢN Quyền tài sản là loại tài sản vô hình, do đó không thể thực hiện được quyền chiếm hữu với loại tài sản này. Căn cứ vào đặc điểm của phương thức kiện đòi lại tài sản thì quyền tài sản không phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản. Khi quyền tài sản bị xâm phạm thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ xâm phạm mà chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể yêu cầu phương thức kiện chấm dứt hành vi xâm phạm hoặc kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. ii. hồ sơ khởi kiện 1. Số lượng 1 bộ 2. Thành phần – Các tài liệu chứng minh nhân thân trong tranh chấp Chứng minh nhân dân, hộ khẩu người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác nếu có. – Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. – Các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho lỗi/sự vi phạm nghĩa vụ của một/các bên – Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp khác nếu có – Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện ghi rõ số bản chính, bản sao – Biên lai nộp lệ phí hoặc tiền tạm ứng án phí sau đó Lưu ý Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc. Các văn bản tài liệu khác nếu nộp bản sao thì phải được xác nhận sao y bản chính iII. quy trình giải quyết Bước 1 Nộp đơn hồ sơ khởi kiện Bước 2 Xử lý đơn khởi kiện Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây a Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; b Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; c Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; d Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bước 3 Ra thông báo nộp tạm ứng án phí Bước 4 Đương sự nộp biên lai nộp tạm ứng án phí cho Tòa án, thẩm phán phụ trách ra quyết định thụ lý vụ án và gửi thông báo thụ lý tới các đương sự và Viện kiểm sát. Bước 5 Các bên đương sự có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung khởi kiện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Bước 6 Quyết định đưa vụ án ra xét xử iv. án phí – Án phí dân sự trong vụ án về tranh chấp kiện đòi lại tài sản bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm – Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí – Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí – Mức án phí sơ thẩm phải nộp Tranh chấp đòi lại tài sản là trường hợp tranh chấp về dân sự có giá ngạch Từ đồng trở xuống đồng Từ trên đồng đến đồng 5% giá trị tài sản có tranh chấp Từ trên đồng đến đồng đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá đồng Từ trên đồng đến đồng đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá đồng Từ trên đồng đến đồng đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt đồng Từ trên đồng đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt đồng – Mức án phí phúc thẩm đối với tranh chấp kiện đòi tài sản đồng v. thời hạn giải quyết Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại từ 2 đến 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Thời hạn mở phiên tòa vụ án kinh doanh thương mại từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Song trên thực tế, các vụ án thường kéo dài hơn với thời gian nhiều năm, do nhiều nguyên nhân như tranh chấp phức tạp cả về nội dung lẫn hình thức tố tụng, trong khi một số quy định của pháp luật chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng, còn nhiều quan điểm khác nhau về hướng giải quyết, liên quan đến nhiều người. vi. căn cứ pháp lý Bộ luật dân sự 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Vui lòng liên hệ với LTS LAW để được tư vấn chi tiết và cụ thể hơn. Liên hệ LTS LAW
Khởi kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp trả lại tài sản cho mình. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu này được quy định cụ thể tại Điều 164 Bộ luật dân sự 2015 “Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản 1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật. 2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Trong đó Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền “yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản”. Do đó, Kiện đòi lại tài sản là một phương thức được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vậy để khởi kiện kiện đòi lại tài sản cần đáp ứng những điều kiện nào? Điều kiện, trình tự thủ tục, hồ sơ, các giấy tờ pháp lý cần thiết để kiện đòi lại tài sản. I. ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN 1. Người khởi kiện nguyên đơn phải chứng minh quyền kiện đòi tài sản Để chứng minh quyền kiện đòi tài sản, trước hết, người khởi kiện phải chứng minh mình là chủ thể có quyền kiện đòi lại tài sản. Theo điều Điều 166 Bộ luật dân sự 2015, chủ thể có quyền kiện đòi ở đây bao gồm Chủ sở hữu và Chủ thể có quyền khác đối với tài sản. a Định nghĩa – Chủ sở hữu là những chủ thể có đầy đủ ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự 2015. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Chủ sở hữu là người có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình. – Chủ thể có quyền khác đối với tài sản là chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác. Quyền khác đối với tài sản bao gồm a Quyền đối với bất động sản liền kề; b Quyền hưởng dụng; c Quyền bề mặt. b Chứng minh Trên thực tế, việc chứng minh quyền sở hữu là rất khó khăn nhất là đối với trường hợp tài sản là động sản không đăng ký quyền sở hữu laptop, điện thoại di động… khi mà tài sản không chỉ chuyển đổi người chiếm giữ một, hai lần mà qua rất nhiều giao dịch dân sự khác nhau. Do đó, nguyên đơn thường phải đưa ra được đặc điểm riêng, đặc trưng để nhận biết tài sản đó. Đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản thường dễ dàng hơn bởi trong trường hợp này có giấy tờ chứng minh. Mặt khác, trong một số trường hợp chủ sở hữu phải chứng minh được tài sản đang đòi đã bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp…. Trong trường hợp người chiếm hữu tài sản nhận được tài sản thông qua giao dịch không đền bù thì không phải chứng mình điều kiện này. c Bồi thường Sau khi chứng minh được quyền kiện đòi, về nguyên tắc, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật bị đơn phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền khác đối với tài sản nguyên đơn theo khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự 2015. Khi lấy lại tài sản, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ trường hợp bồi thường cho người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình phải bỏ ra chi phí hợp lí để sửa chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản. Như vậy, trường hợp bồi thường chỉ đặt ra đối với người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình Điều 583 Bộ luật dân sự 2015. 2. Người bị kiện bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Người bị kiện bị đơn là người chiếm hữu tài sản của người khởi kiện không có căn cứ pháp luật và là người đang trực tiếp nắm giữ tài sản đó Người bị kiện có thể là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình hoặc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình được xác định cụ thể tại Điều 180 và Điều 181 Bộ luật dân sự 2015. Việc xác định tính chất chiếm hữu tài sản của người bị kiện là ngay tình hay không ngay tình có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án bởi điều này không chỉ làm cơ sở để đáp ứng hay không yêu cầu lấy lại tài sản của nguyên đơn mà còn để giải quyết các hệ quả liên quan như yêu cầu người đã trực tiếp chuyển giao tài sản cho mình phải thanh toán chi phí Điều 583 Bộ luật dân sự 2015 cũng như nghĩa vụ của người chiếm hữu trong việc hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời gian chiếm hữu tài sản Điều 581 Bộ luật dân sự 2015 3. Điều kiện đối với đối tượng kiện đòi Tài sản còn Đối tượng kiện đòi được xác định rất rõ ràng đó là tài sản. Để có thể lựa chọn phương thức kiện đòi tài sản, ngoài hai yêu cầu về mặt chủ thể tham gia nêu trên còn phải đáp ứng điều kiện đó là tài sản còn tồn tại và đang nằm trong sự chiếm giữ của bị đơn. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Tuy nhiên do đặc thù của phương thức kiện đòi lại tài sản cho nên không phải tất cả những tài sản được liệt kê tại Điều 105 đều là đối tượng của kiện đòi lại tài sản . VẬT Để áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản thì tài sản phải là vật có thực và tồn tại trên thực tế với 2 trường hợp còn nguyên ở trạng thái ban đầu hoặc về cơ bản vẫn còn nhưng bị giảm sút giá trị hoặc đã được làm tăng giá trị. Nếu vật hiện không còn tồn tại do đã bị mất mà không xác định được ai là người đang thực tế chiếm hữu hoặc bị tiêu hủy thì cũng không thể áp dụng biện pháp kiện đòi lại tài sản được mà chỉ có thể áp dụng biện pháp kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. TIỀN Tiền được coi là một loại tài sản riêng biệt. Chủ sở hữu có thể kiện đòi lại tiền trong trường hợp biết rõ số seri của những tờ tiền đó mà hiện đang bị người khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Trường hợp tiền đã được bao gói niêm phong mà bị người khác chiếm hữu trái pháp luật và hiện số tiền đó vẫn còn nguyên bao thì bản chất kiện đòi lại tài sản trong trường hợp này là kiện đòi lại tài sản là vật một gói tiền chứ không phải là kiện đòi lại tiền. Do vậy, tùy từng trường hợp mà tiền có thể là đối tượng hoặc không phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản. GIẤY TỜ CÓ GIÁ Giấy tờ có giá với tư cách là giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản, giá trị của giấy tờ có giá chính là giá trị của quyền tài sản mà nó minh chứng. Giấy tờ có giá là loại tài sản hữu hình, được xếp vào loại tài sản là động sản. Giấy tờ có giá có thể là đối tượng của quyền đòi lại tài sản. QUYỀN TÀI SẢN Quyền tài sản là loại tài sản vô hình, do đó không thể thực hiện được quyền chiếm hữu với loại tài sản này. Căn cứ vào đặc điểm của phương thức kiện đòi lại tài sản thì quyền tài sản không phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản. Khi quyền tài sản bị xâm phạm thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ xâm phạm mà chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể yêu cầu phương thức kiện chấm dứt hành vi xâm phạm hoặc kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. II. HỒ SƠ KHỞI KIỆN 1. Số lượng 1 bộ 2. Thành phần – Các tài liệu chứng minh nhân thân trong tranh chấp Chứng minh nhân dân, hộ khẩu người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác nếu có. – Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. – Các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho lỗi/sự vi phạm nghĩa vụ của một/các bên – Các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp khác nếu có – Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện ghi rõ số bản chính, bản sao – Biên lai nộp lệ phí hoặc tiền tạm ứng án phí sau đó Lưu ý Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc. Các văn bản tài liệu khác nếu nộp bản sao thì phải được xác nhận sao y bản chính III. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT Bước 1 Nộp đơn hồ sơ khởi kiện Bước 2 Xử lý đơn khởi kiện Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây a Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; b Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; c Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; d Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bước 3 Ra thông báo nộp tạm ứng án phí Bước 4 Đương sự nộp biên lai nộp tạm ứng án phí cho Tòa án, thẩm phán phụ trách ra quyết định thụ lý vụ án và gửi thông báo thụ lý tới các đương sự và Viện kiểm sát. Bước 5 Các bên đương sự có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung khởi kiện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Bước 6 Quyết định đưa vụ án ra xét xử IV. ÁN PHÍ – Án phí dân sự trong vụ án về tranh chấp kiện đòi lại tài sản bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm – Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí – Thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí – Mức án phí sơ thẩm phải nộp Tranh chấp đòi lại tài sản là trường hợp tranh chấp về dân sự có giá ngạch Từ đồng trở xuống đồng Từ trên đồng đến đồng 5% giá trị tài sản có tranh chấp Từ trên đồng đến đồng đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá đồng Từ trên đồng đến đồng đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá đồng Từ trên đồng đến đồng đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt đồng Từ trên đồng đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt đồng – Mức án phí phúc thẩm đối với tranh chấp kiện đòi tài sản đồng V. THỜI HẠN GIẢI QUYẾT Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại từ 2 đến 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Thời hạn mở phiên tòa vụ án kinh doanh thương mại từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Song trên thực tế, các vụ án thường kéo dài hơn với thời gian nhiều năm, do nhiều nguyên nhân như tranh chấp phức tạp cả về nội dung lẫn hình thức tố tụng, trong khi một số quy định của pháp luật chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng, còn nhiều quan điểm khác nhau về hướng giải quyết, liên quan đến nhiều người. VI. CĂN CỨ PHÁP LÝ Bộ luật dân sự 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Vui lòng liên hệ với Luật Đỗ Gia Việt để được tư vấn chi tiết và cụ thể hơn. Post Views 143 ======================================================== ĐOÀN LUẬT SƯ HÀ NỘI CÔNG TY LUẬT TNHH ĐỖ GIA VIỆT Giám đốc - Luật sư Đỗ Ngọc Anh Công ty luật chuyên Hình sự - Thu hồi nợ - Doanh nghiệp – Đất Đai – Trọng tài thương mại – Hôn nhân và Gia đình. Văn phòng luật sư quận Cầu Giấy Phòng 6 tầng 14 tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Văn phòng luật sư quận Long Biên Số 24 ngõ 29 Phố Trạm, Phường Long Biên, Quận Long Biên, Hà Nội Văn phòng luật sư Hải Phòng Số 102, Lô 14 đường Lê Hồng Phong, Phường Đằng Lâm, Quận Hải An, Hải Phòng. Điện thoại 0944 450 105 Email luatdogiaviet Hệ thống Website luatsubaochua luatsutranhtung luatsuhinhsu luatsudatdai thuhoino
Hệ thống pháp luật Việt Nam xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau 1. Kiện đòi tài sản là gì?Kiện đòi tài sản là một phương thức nhằm bảo vệ quyền sở hữu. Trong thực tế ngày nay, sự xâm phạm quyền sở hữu diễn ra rất đa dạng, dưới nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy pháp luật đã có quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, cụ thể là tại điều 255 Bộ luật dân sự 2015, theo đó“Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữuChủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật” Ta có thể thấy chủ sở hữu có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu. sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. Cũng theo Điều 225, khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệ quyền sở hữu nếu có sự xâm hại, họ có thể;“…yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản” .Hay nói cách khác, kiện đòi tài sản là một phương thức bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, được pháp luật quy định và công hết, ta cần hiểu rõ khái niệm về phương thức bảo vệ quyền sở hữu này Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình, được xem như một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, nhằm đảm bảo để chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình 256 Bộ luật Dân sự quy định quyền đòi lại tài sản“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của bộ luật dân sự”…Như vậy chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, bằng nhiều cách thức, có quyền yêu cầu người đang nắm giữ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó trong trường hợp người đó đang thực tế chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật. Tài sản trong trường hợp này, ta có thể hiểu là vật bị chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là vật đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp, đã rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm giữ hợp pháp mà nằm ngoài ý chí của người vậy, ta có thể xác định đối tượng của kiện đòi tài sản là tài sản đang bị chiếm hữu bất hợp pháp. Tùy từng loại tài sản khác nhau mà có thời hiệu khởi kiện có thể khác nhau theo quy định của pháp luật, đó là thời hạn mà“Chủ thể được quyền khởi kiện hoặc nộp đơn yêu càu tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm…” khoản 3 Điều 155 Bộ luật dân sự 2015.Hết thời hiệu này, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không có quyền kiện đòi tài sản. Pháp luật dân sự có quy định thời hiệu khởi kiện cho từng trường hợp riêng biệt. Đối với kiện đòi tài sản, điều 256 quy định việc người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, trừ trường hợp “ Quy định tại khoản 1 điều 247” – nghĩa là xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu phù hợp với quy định của pháp luật. Khi đã xác lập quyền sở hữu hợp pháp, có nghĩa là người đang chiếm hữu tài sản đã trở thành người sở hữu hợp pháp tài sản đó, và không phải trả lại tài sản nếu chủ sở hữu trước yêu Quy định của pháp luật dân sự về kiện đòi tài sảnTóm tắt câu hỏiKính Thưa Luật sư ! Cho tôi hỏi tôi có người anh ruột. Hiện nay, anh làm ăn thất bại, thiếu nợ nhiều tiền nhiều người, tài sản của anh trai tôi đã thế chấp ngân hàng và cầm cố hết. Ngoài ra, còn nợ mười người trên 1,5 tỷ , chín người kia không có thưa kiện mà nói với anh tôi cứ từ từ làm ăn có dư thì trả, còn một người thì kiện ra tòa án anh tôi nợ gần 300 tôi xin hỏi anh tôi không có khả năng để trả nợ cho người đó, thì anh tôi có bị án hình sự không?. Nếu như thỏa thuận tại tòa anh tôi có trả dần hàng tháng cho người đó và chín người còn lại có được không?. Nhưng hiện tại thu nhập của anh trai tôi khoảng 5 triệu, có hai đứa con nhỏ, đứa 6 tuổi và đứa 8 tuổi, vợ anh thì chỉ ở nhà nội trợ. Chi phí chi tiêu, học hành, gia đình chi tiêu khoảng 4 triệu, còn dư 1 anh tôi có chia ra trả 1 triệu trả cho 10 người đó có được không? Cám ơn Luật sư !Nội dung tư vấnTrường hợp của anh trai bạn do không nói rõ về yếu tố hành vi của anh trai bạn cho nên chúng tôi xin chia thành hai trường hợp đó là trường hợp chỉ kiện dân sự và trường hợp sẽ bị khởi tố trách nhiệm hình Đối với kiện dân sự trong trường hợp chỉ là giao dịch dân sự vay tiền thông thường bằng hình thức hợp đồng vay tài sản. Người vay muốn đòi được nợ quá hạn mà bên vay chưa thanh toán thì sẽ tiến hành gửi đơn khởi kiện đến Tòa án. Như vậy, căn cứ vào đó trong trường hợp của anh trai bạn, nếu anh ấy giao kết hợp đồng với các chủ nợ chỉ theo hợp đồng vay tài sản thông thường thì bên chủ nợ chỉ có thể khởi kiện dân sự, tức kiện đòi tài sản chứ không liên quan đến yếu tố hình sự trong vụ việc này. Ngoài ra, đối với vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý nếu anh trai của bạn có thể thỏa thuận trả tiền hàng tháng với các chủ nợ kia thì Tòa án sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong vụ án dân sự. Bởi vì nguyên tắc của bên dân sự chính sự Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các Việc đòi nợ cũng có thể giải quyết theo con đường hình sự thông qua việc tố giác tội phạm. Tùy từng trường hợp cụ thể nếu có đủ căn cứ xác định tội phạm, người vay tiền có những hành vi đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174, Bộ Luật Hình sự hoặc tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 175, Bộ Luật Hình sự bên cơ quan điều tra sẽ chỉ khởi tố vụ án khi đó thuộc trường hợp người vay tiền có hành vi gian dối ngay từ khi thực hiện giao dịch hoặc có hành vi lạm dụng tín nhiệm để vay tài sản hoặc vay tài sản hoặc vay tài sản sau đó tẩu tán, bỏ trốn…nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng khoản tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có đủ khả năng thanh toán, có tài sản nhưng có tình không trả..Nếu anh trai bạn có những hành vi được quy định là tội phạm theo quy định của Bộ Luật Hình sự thì anh trai bạn có thể bị khởi tố hình sự. Vì đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội nên dù có thỏa thuận thì hành vi vi phạm pháp luật của anh trai bạn vẫn sẽ bị cơ quan điều tra khởi tố theo đúng quy định pháp Quy định của pháp luật về phương pháp kiện đòi tài sảnKiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền buộc người có hành vi vi phạm quyền sở hữu phải trả lại tài sản cho mình. Mục đích của phương thức kiện này là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp lấy lại được tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình . Điều kiện chung để thực hiện phương thức kiện này được quy định cụ thể như sau– Chủ thể yêu cầu nguyên đơn Phải là người chủ sở hữu, chiếm hữu hợp pháp với tài sản đó và phải chứng minh được mình là người sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp khi có yêu cầu.– Người bị kiện bị đơn Phải là người đang chiếm hữu tài sản trên thực tế không có căn cứ pháp luật không ngay tình. Điều này rất quan trọng vì nhiều trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiêm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu tài sản đó đã trở thành chủ sở hữu của tài sản do xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu hoặc xác lập quyền sở hữu theo các quy định khác của pháp luật.– Tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất hợp pháp Nếu vì một lý do nào đó khiến tài sản bị hư hỏng, thất lạc, bị tiêu hủy … thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể áp dụng phương thức kiện này.– Không rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định không phải trả lại tài sản được quy định tại các Điều 257, Điều 258 Bộ luật Dân sựBLDS TTheo qui định tại Điều 257 Bộ luật Dân sự thì“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.Theo đó thì chủ sở hữu chỉ đòi lại được tài sản nếu người chiếm hữu ngay tình có được động sản đó thông qua giao dịch không có đền bù với người không có quyền định đoạt đối với tài sản hoặc trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp bị người khác chiếm hữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu. Như vậy, nếu người ngay tình có được tài sản thông qua giao dịch có đền bù và tài sản đó không phải bị mất cắp, bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì nguyên đơn không thể khởi kiện đòi lại tài quy định tại Điều 258 Bộ luật Dân sự năm 2015“Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.Việc một người có tài sản thông qua việc mua bán đấu giá hoặc giao dịch với người đã được Nhà nước có thẩm quyền công nhận là chủ sở hữu của tài sản là trường hợp mà người ngay tình hoàn toàn không có lỗi họ sẽ được pháp luật bảo vệ. Chính vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp không thể kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình mà chỉ có thể áp dụng phương thức khác để bảo vệ quyền sở hữu của mình như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.– Ưu điểm là biện pháp hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các biện pháp dân sự khác. Khi áp dụng sẽ nhanh chóng lấy lại được tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình do được đảm bảo bằng các biện pháp quyền lực nhà nước.– Nhược điểm mất thời gian, chi phí theo kiện. Có ảnh hưởng xấu tới quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn. Việc bình thường hóa quan hệ này sau khi áp dụng phương thức kiện thường khó diễn ra hoặc có thì rất lâu Khái quát chung về kiện đòi tài sảnKiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho mình. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 256 Bộ luật dân sự“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…”.Tuy nhiên, đối với những tài sản được chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai và đã được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì không áp dụng đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự hoặc các trường hợp quy định tại Điều 257, 258 thì không đòi lại tài sản.Điều kiện chung về kiện đòi tài sản có thể kể đếnThứ nhất, về chủ thể có quyền yêu cầu Là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó như người thuê tài sản, người nhận giữ tài sản … Phải chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản hay nói cách khác chứng minh được quyền khởi kiện của hai, người bị khởi kiện Phải là người chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản . Điều kiện này rất quan trọng vì có nhiều khi chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra người chiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu đó lại trở thành người chủ sở hữu của tài sản do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu điều 247, Bộ luật dân sự 2015 hoặc do đã hết quyền hưởng thời hiệu dân sự trong trường hợp nhận được tài sản đánh rơi, phát hiện gia súc, gia cầm thất lạc điều 241,242,243 Bộ luật dân sự năm 2015.Thứ ba, tài sản kiện đòi phải còn tồn tại, nếu vật là đối tượng kiện đòi , không còn tồn tại do bị tiêu hủy, hoặc bị mất thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không thể trả lại chính tài sản đó cho bên kiện đòi. Vì thế, trong trường hợp này phải áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hạiThứ tư, thuộc trường hợp được phép đòi lại tài sản theo quy định của pháp luật Theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nếu pháp luật có quy định. Vì vậy dù đủ 3 điều kiện trên , nhưng không thuộc trường hợp đòi lại tài sản thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ được quyền yêu cầu bồi thường thiệt Người khởi kiện trong kiện đòi tài sảnTheo quy định pháp luật thì quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo đó, Điều 256 Bộ luật dân sự 2015 quy định“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình thì phải trả lại tài sản đó”.Theo quy định này thì chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp là người có quyền khởi kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp sở hữu là người có trong tay, người nắm giữ, quản lí tài sản được xác lập theo các căn cứ luật định và có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản đó. Chủ sở hữu là người có tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình và để xác định một tài sản nào đó có phải là tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định hay không phải dựa trên căn cứ xác lập quyền sở hữu do pháp luật quy định theo Điều 170 Bộ luật dân sự 2015.Một chủ sở hữu chỉ có quyền sở hữu tài sản nếu tài sản đó được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Tuy nhiên, trên thực tế không phải chủ sở hữu nào cũng có quyền sở hữu đối với một số loại tài sản nhất định, có những tài sản pháp luật quy định chỉ có những chủ thể nhất định mới có quyền sở hữu thì chỉ có những chủ thể này mới có quyền sở hữu tài sản đó và có những loại tài sản thì chủ thể phải đáp ứng những điều kiện nhất định mới được coi là chủ sở hữu thì chủ sở hữu phải tuân thủ theo những điều kiện chiếm hữu hợp pháp là người được chủ sở hữu ủy quyền quản lí tài sản, hoặc là người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu. Chủ thể chỉ có thể kiện đòi tài sản dựa trên cơ sở quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Nghĩa là các chủ thể không có quyền yêu cầu tòa án xét xử để đòi lại những tài sản mà theo quy định của pháp luật chủ thể đó không được quyền xác lập quyền sở khởi kiện là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác như các đương sự khác nhưng việc tham gia của họ mang tính chủ động hơn vì bọn họ chính là người yêu cầu tòa án can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà mình làm người đại diện. Việc khởi kiện của họ là cơ sở phát sinh vụ án dân sự tại tòa án khi xác định tư cách của người khởi kiện cần chú ý không phải lúc nào người có quyền lợi bị xâm phạm nguyên đơn cũng đồng thời là người khởi Nghĩa vụ nộp án phí khi khởi kiện đòi tài sảnTóm tắt câu hỏiXin luật sư tư vấn tôi có cho một đồng nghiệp vay số tiền là 18 triệu đồng từ năm 2014 đến nay đòi nhiều lần không trả. Nay tôi gửi đơn ra tòa về việc đòi lại tiền cho vay vậy tôi có phải nộp án phí không?. trân trọng cảm ơn luật sư!?Nội dung tư vấnTheo Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí như sau“1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí.”Như vậy, bạn với tư cách là bên nguyên đơn thì sẽ phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ khoản 4 Điều 25 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm như sau“Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết”.Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm như sau“1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh này, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí quy Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án Trong vụ án có người không phải nộp hoặc được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm thì những người khác vẫn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều này.”Như vậy, khi nộp đơn khởi kiện thì bạn có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, sau khi giải quyết tranh chấp, căn cứ vào quyết định của Tòa án để xác định nghĩa vụ nộp tiền án phí của đương sự theo quy định của pháp luật. Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn. Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp. Trân trọng cảm ơn. Thống Pháp Luật Việt nam Lưu ý Nội dung tư vấn của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy vào từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách hay quy định mới của pháp luật.
kiện đòi tài sản